Thứ hai, 15/12/2025 17:15

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc


Báo cáo viên: Huỳnh Thanh Loan - Lê Thị Hằng Nga
Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi  
 
Mở đầu
Lịch sử phát triển của một dân tộc luôn được đánh dấu bằng những bước ngoặt có tính chất kỷ nguyên - tức là những thời đoạn phát triển lịch sử trong đó có sự kiện, điều kiện, hay chiến lược làm thay đổi căn bản vận mệnh quốc gia. Đối với Việt Nam, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đến nay, đất nước ta về cơ bản đã và đang trải qua ba kỷ nguyên mang dấu ấn sâu đậm của tư tưởng Hồ Chí Minh. Thời điểm hiện nay, Đảng ta xác định nước ta sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới: kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Theo đó, kỷ nguyên mới đòi hỏi phải tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, hành động của toàn Đảng, tòan xã hỗi trong việc giữ gìn, nuôi dưỡng, sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước. Tiến vào kỷ nguyên mới là bước phát triển tất yếu, phù hợp với quy luật vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thòi đại. Đây cũng là thời điểm ý Đảng hòa quyện với lòng dân, xây dựng xã hội hạnh phúc và giàu đẹp, hùng cường hơn.

Xuyên suốt toàn bộ hành trình đó, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động và là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam. Chính tư tưởng Hồ Chí Minh - sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx - Lenin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam – đã tạo nên cơ sở lý luận và tinh thần cốt lõi cho mọi thắng lợi của dân tộc ta trong từng kỷ nguyên phát triển. Chuyên đề này sẽ đi sâu phân tích và trả lời câu hỏi: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là gì? Vì sao phải học tập tư tưởng HCM trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc? Học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào? Cán bộ ngành khoa học học tập tư tưởng Hồ Chí Minh thì phải vận dụng cụ thể như thế nào? Chuyên đề này cũng mở rộng đến Ấn Độ - đối tượng nghiên cứu của Viện – để phân tích hành trình và mối quan hệ sâu sắc giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Ấn Độ và phát huy nền tảng đó trong kỷ nguyên mới.

1. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Kỷ nguyên là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội - văn hóa - chính trị - tự nhiên. Kỷ nguyên thường được sử dụng để phân chia thời gian trong lịch sử theo những biến cố lớn hoặc có sự thay đổi căn bản trong đời sống chính trị hay khoa học, công nghệ, môi trường. Ví dụ: Kỷ nguyên công nghiệp, kỷ nguyên thông tin, kỷ nguyên kỹ thuật số, kỷ nguyên vũ trụ. Còn trước đây là kỷ nguyên đồ đá, kỷ nguyên cổ đại, kỷ nguyên trung cổ…

Từ khi ĐCS VN ra đời cho đến nay, về cơ bản các ý kiến xác định nước ta đã trải qua 2 kỷ nguyên. Kỷ nguyên thứ 1 đấu tranh cho độc lập tự do, tính từ khi ĐCS mới ra đời năm 1930 đến năm 1975 khi chúng ta hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân với thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Kỷ nguyên thứ 2 là Kỷ nguyên Đổi mới và phát triển, kỷ nguyên này khởi đầu tại Đại hội toàn quốc lần thứ 6, tháng 12/1986 và cho đến hiên nay đang diễn ra gần 40 năm. Trong toàn bộ quá trình phát triển, Tư tưởng HCM luon luôn được khẳng định là nền tảng tư tưởng soi đường cho thắng lợi cho dân tộc chúng ta trong 2 kỷ nguyên, và hiện nay chúng ta đang ở thềm bước sang kỷ nguyên mới. TTHCM tiếp tục là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam soi đường cho dân tộc VN ta tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

(i) Kỷ nguyên thứ nhất là Kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975)
Đây là thời kỳ thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, với nhiệm vụ trung tâm là giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đánh đổ chủ nghĩa thực dân – phong kiến, đưa lại quyền làm chủ cho nhân dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn này là kim chỉ nam để Đảng ta hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, độc lập với mọi cường quốc và bám sát đặc điểm dân tộc. Ngay từ những năm 1920, Hồ Chí Minh đã đi tìm con đường cứu nước không theo lối mòn cũ. Khi tìm thấy chủ nghĩa Mác – Lênin, Người viết trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927): “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản.”
Với phương châm nhất quán "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội", Người đã truyền cảm hứng và sức mạnh tinh thần cho toàn dân đứng lên đấu tranh. Những thắng lợi vẻ vang như Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 chính là những minh chứng hùng hồn cho sức mạnh tư tưởng đó. Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ về chính trị, mà còn là nguồn cổ vũ tinh thần lớn lao, như Người từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu… Khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn.”

(ii) Kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới, phát triển (1975-2025)
Mở đầu bằng thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội năm 1975, tạo tiền đề vững chắc để đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành công cuộc đổi mới bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986, tạo bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên các lĩnh vực. 
Mục tiêu hàng đầu của Việt Nam là phải chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, thoát ra khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân, xác lập vị thế quốc tế xứng đáng. Mục tiêu chiến lược đó đặt ra yêu cầu lịch sử phải đổi mới toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập quốc tế. Sau gần 50 năm đất nước thống nhất, 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã thực hiện thắng lợi các yêu cầu lịch sử, đổi mới thành công, vượt thoát khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát triển, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế mới.
Thành tựu to lớn trong thời kỳ đổi mới đã khẳng định sự đúng đắn của tư tưởng phát triển theo hướng: phát triển kinh tế gắn với nâng cao đời sống nhân dân, như Bác từng nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.”

(iii) Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc (2026-2045)
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc hiện đang từng bước hoàn thiện nhận thức, ĐH 14 sẽ đưa ra đầy đủ quan điểm về kỷ nguyên của dân tộc. Đảng ta xác định, từ Đại hội XIV trở đi, đất nước ta sẽ chính thức bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Theo đó, kỷ nguyên mới đòi hỏi phải tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn xã hội trong việc giữ gìn, nuôi dưỡng, sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của đất nước. Đặc biệt, kỷ nguyên mới đòi hỏi phải phát huy cao nhất tinh thần, ý chí, sức mạnh của nhân dân - Chủ thể đóng vai trò trung tâm của sự nghiệp kiến tạo kỷ nguyên mới.

Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại.
Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Đây “là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao”(1). Mục tiêu của kỷ nguyên thứ ba là sự tích hợp ở tầm cao mới, trình độ mới những mục tiêu của hai kỷ nguyên trước, phản ánh sự phát triển về chất của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, của sự vận động biện chứng độc lập - tự do - hạnh phúc. Kỷ nguyên mới đặt ra những yêu cầu lịch sử đặc biệt, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nhận thức sâu sắc, quyết tâm, quyết liệt hành động để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

2. Học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và vận dụng TTHCM trong 7 định hướng của TBT Tô Lâm

Tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, phát triển thể chế, nâng cao năng lực hành động. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đất nước đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức. Để “vươn mình”, cần một nội lực tinh thần sâu sắc, một hệ giá trị đủ sức cố kết xã hội và thúc đẩy hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nguồn nội lực như vậy. Người dạy: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.” Sự phát triển của đất nước không thể tách rời sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, sự gương mẫu của cán bộ và sự đồng thuận của nhân dân. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là con đường nâng cao năng lực lãnh đạo, tăng tính đảng, tinh thần phục vụ nhân dân trong mọi cấp lãnh đạo và trong từng hành động chính sách.

Nếu thông điệp về “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” hiện nay đang khơi dậy trong nhân dân khát vọng, niềm tin về một giai đoạn phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh lại truyền cảm hứng, ý chí, quyết tâm và gợi mở các giải pháp để biến đường lối cách mạng thành hiện thực cách mạng. Tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh "là nguồn năng lượng tinh thần bất diệt, tiếp tục dẫn đường cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới". Đó cũng là nền tảng lý luận vững chắc để thực hiện khát vọng xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên phát triển mới là thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng 7 định hướng chiến lược của kỷ nguyên vươn mình do TBT Tô Lâm đặt ra
Kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ động lực phát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới, Tổng Bí thư Tô Lâm đã xác định 7 định hướng chiến lược đưa đất nước vào kỷ nguyên vươn mình.

(i) Trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Người khẳng định: “cán bộ, đảng viên phải làm gương mẫu cho nhân dân. Cán bộ cấp trên phải làm gương mẫu cho cán bộ cấp dưới”.  Câu nói ấy không chỉ đề cập đến đạo đức cá nhân của người cán bộ, mà còn hàm chứa triết lý về bản chất của quyền lực cách mạng: quyền lực chỉ có tính chính đáng khi gắn với sự nêu gương và khi mỗi chủ thể cầm quyền tự đặt mình dưới sự giám sát của nhân dân, và yêu cầu nâng cao năng lực cầm quyền, đổi mới cách thức ban hành và thực hiện nghị quyết của Đảng, xây dựng chi bộ thực chất, gắn lý luận với thực tiễn.

(ii) Trong Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: 
Người khẳng định: “Pháp luật là phép luật của Nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho Nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số Nhân dân” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, T.9, tr.259); “Muốn trị nước phải trọng pháp luật” (Hồ Chí Minh, Đạo đức cách mạng, 1958); “Pháp luật là vũ khí sắc bén để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền lợi Nhân dân” (Bài nói của Hồ Chí Minh tại Quốc hội, 1957)…Tư tưởng này hoàn toàn phù hợp với chiến lược hoàn thiện thể chế pháp luật vì dân, đề cao dân chủ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

(iii) Trong tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản trị: 
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất quán cho rằng bộ máy hành chính phải được tổ chức gọn nhẹ, tránh rườm rà, nhiều tầng nấc trung gian. Tinh thần này đòi hỏi cải cách mạnh mẽ bộ máy hành chính, cắt giảm trung gian, chấm dứt cơ chế “xin – cho”, gắn công vụ với trách nhiệm và hiệu quả phục vụ dân.

(iv) Trong chuyển đổi số: 
Người dạy: “Muốn tiến bộ mãi thì phải học tập. Học trong sách báo, học trong công tác, học với anh em, học hỏi quần chúng. Học để phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm”. Tư tưởng học tập suốt đời, tôn trọng tri thức, sẵn sàng tiếp thu cái mới là tiền đề để tiếp cận và làm chủ công nghệ số, khai phóng năng lực sáng tạo quốc gia.

(v) Trong chống lãng phí: 
Người khẳng định: “Tiết kiệm là quốc sách.” Học tập tư tưởng tiết kiệm không chỉ để xử lý thất thoát, mà còn để kiến tạo một nền kinh tế và xã hội hiệu quả, giảm chi phí vô hình và tăng năng suất lao động.

(vi) Trong xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực: 
Người nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc.” Xây dựng cán bộ dám nghĩ, dám làm, có đạo đức, có bản lĩnh, có năng lực tổ chức thực hiện là cốt lõi để hiện thực hóa chiến lược phát triển đất nước.

(vii) Trong tăng cường phát triển kinh tế
Người chỉ rõ: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”  Tư tưởng phát triển vì con người phải được đưa vào trong từng chỉ số tăng trưởng, từng gói đầu tư, từng chính sách kinh tế, để bảo đảm sự thịnh vượng hài hòa với công bằng xã hội.

3. Cán bộ Viện Hàn lâm học tập tư tưởng HCM trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, với vị thế là cơ quan nghiên cứu trọng yếu về khoa học xã hội và nhân văn của đất nước, từ lâu đã được xác lập như một trung tâm tham mưu chiến lược, một “bộ não” lý luận và chính sách phục vụ trực tiếp cho sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vai trò ấy không thể dừng lại ở hoạt động nghiên cứu hàn lâm thuần túy, mà cần được nâng lên thành chức năng kiến tạo nền tảng lý luận và cung cấp luận cứ khoa học cho những bước bứt phá chiến lược của quốc gia.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện Hàn lâm trong giai đoạn hiện nay, vì vậy, không thể chỉ dừng ở những khẩu hiệu chung chung hay sự học tập hình thức, mà phải được chuyển hóa thành những hành động khoa học cụ thể, gắn chặt với thực tiễn phát triển đất nước. Từ góc độ nghiên cứu lý luận, có thể khái quát một số nội dung vận dụng cốt lõi mang tính định hướng.

Trước hết, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ hữu cơ giữa khoa học và thực tiễn. Người luôn phê phán lối học thuật xa rời đời sống, coi lý luận không gắn với thực tiễn chỉ là “lý luận suông”. Đối với khoa học xã hội, yêu cầu ấy càng trở nên cấp bách trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu không phải để cất giữ trong ngăn kéo hay chỉ phục vụ mục tiêu nghiệm thu hình thức, mà phải góp phần trực tiếp giải quyết những vấn đề lớn của phát triển như bảo đảm sinh kế, nâng cao chất lượng sống và xác lập con đường đi lên bền vững của dân tộc. Trên tinh thần đó, Viện Hàn lâm cần mạnh mẽ tái cấu trúc chương trình nghiên cứu, kiên quyết loại bỏ những đề tài trùng lặp, thiếu giá trị thực tiễn, đồng thời tập trung nguồn lực cho những vấn đề “nóng” của kỷ nguyên vươn mình như vượt bẫy thu nhập trung bình, quản trị xã hội trong kỷ nguyên số, xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam mới hay cơ sở khoa học cho tiến trình tinh gọn bộ máy. Cán bộ nghiên cứu, theo đúng tinh thần Hồ Chí Minh, phải thực sự “đi vào thực tiễn”, dấn thân vào các địa bàn và điểm nóng kinh tế – xã hội để đúc rút lý luận từ đời sống sinh động của đất nước.

Hai là, việc vận dụng tư tưởng “Cần, kiệm, liêm, chính” vào hoạt động khoa học cần được coi là yêu cầu mang tính đạo đức nghề nghiệp. Hồ Chí Minh từng coi lãng phí là một loại giặc; trong lĩnh vực khoa học, lãng phí ngân sách nhà nước và lãng phí chất xám càng trở nên nguy hiểm. Đối với Viện Hàn lâm, điều này đặt ra yêu cầu sử dụng hiệu quả từng nguồn lực nghiên cứu, bảo đảm mỗi đề tài, mỗi chương trình khoa học đều tạo ra giá trị gia tăng thực chất cho công tác tư vấn chính sách. Đồng thời, việc giữ gìn liêm chính học thuật phải trở thành chuẩn mực bất di bất dịch. Chống đạo văn, chống gian dối khoa học, chống hiện tượng “xào xáo” hay thương mại hóa bài báo không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là biểu hiện cụ thể của việc vận dụng chữ “liêm” và “chính” trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Một kỷ nguyên phát triển mới đòi hỏi những dữ liệu trung thực và các đánh giá khách quan, thậm chí có thể trái chiều, để Đảng và Nhà nước có cơ sở hoạch định chính sách đúng đắn.

Ba là, cần vận dụng sâu sắc tư tưởng “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” trong nghiên cứu và tư vấn chính sách. Hồ Chí Minh không chỉ là nhà lãnh đạo cách mạng mà còn là một danh nhân văn hóa, luôn đề cao việc giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng hiện nay, nguy cơ đánh mất bản sắc và bị “hòa tan” về giá trị là thách thức hiện hữu. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện Hàn lâm vì thế mang sứ mệnh của những “người gác cổng văn hóa”, có trách nhiệm nghiên cứu, luận giải và hệ thống hóa các hệ giá trị nền tảng của quốc gia, từ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình đến chuẩn mực con người Việt Nam. Chỉ khi văn hóa thực sự được chuyển hóa thành nguồn lực nội sinh và thành sức mạnh mềm quốc gia, Việt Nam mới có thể vươn mình một cách bền vững.

Bốn là, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh cần được vận dụng mạnh mẽ vào đổi mới tư duy lý luận. Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu của sự chống giáo điều, luôn sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong kỷ nguyên mới, sự bứt phá về phát triển tất yếu đòi hỏi những đột phá về thể chế. Viện Hàn lâm cần trở thành nơi đi đầu trong việc nghiên cứu những vấn đề mới, phức tạp, chưa có tiền lệ, từ cơ chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới, đến các mô hình kinh tế mới như kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn hay những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình chuyển đổi. Những nghiên cứu này phải cung cấp được luận cứ khoa học sắc bén, giúp Đảng và Nhà nước mạnh dạn tháo gỡ các điểm nghẽn đang kìm hãm sự phát triển.

Cuối cùng, việc vận dụng phong cách “nói đi đôi với làm” và tư tưởng “trọng dân” cần trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng trí thức không được xa dân, càng không được khinh dân. Các công trình nghiên cứu về xã hội học, tâm lý học, dân tộc học hay chính sách công chỉ thực sự có giá trị khi phản ánh trung thực đời sống và nguyện vọng của nhân dân. Trong vai trò tham mưu chính sách, cán bộ của Viện Hàn lâm cần thường xuyên đặt ra câu hỏi cốt lõi: chính sách này mang lại lợi ích gì cho người dân, có tạo thêm gánh nặng hay phiền hà cho dân hay không. Trên tinh thần đó, Viện Hàn lâm phải thực sự trở thành cầu nối khoa học giữa Đảng với nhân dân, đưa tiếng nói của đời sống xã hội vào các quyết sách chiến lược của đất nước.

Như vậy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, xét đến cùng, chính là quá trình biến các giá trị tư tưởng và đạo đức cách mạng thành năng lực khoa học cụ thể, góp phần xây dựng nền tảng lý luận vững chắc cho sự vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ấn Độ
Mối quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, xét trong chiều sâu lịch sử, không khởi nguồn từ thời điểm hai nhà nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mà bắt đầu sớm hơn nhiều, từ sự gặp gỡ của những khát vọng giải phóng dân tộc trong bối cảnh châu Á còn chìm dưới ách thực dân. Chính khát vọng độc lập và tự do đã tạo nên nền tảng tinh thần ban đầu cho mối quan hệ đặc biệt này.

Cuộc gặp gỡ mang tính định mệnh giữa Nguyễn Ái Quốc và Jawaharlal Nehru tại Hội nghị Brussels năm 1927 của Liên minh chống đế quốc là một dấu mốc tiêu biểu. Khi ấy, cả hai đều là những trí thức trẻ, chưa giữ cương vị lãnh đạo quốc gia, nhưng đã đại diện cho hai dân tộc đông dân và chịu áp bức sâu sắc nhất châu Á. Tại đây, họ tìm thấy sự đồng điệu tư tưởng: cùng nhận diện chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung và cùng nuôi dưỡng khát vọng giải phóng dân tộc bằng con đường riêng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước. Sự đồng điệu ấy đã đặt những viên gạch đầu tiên cho sự tin cậy chính trị và tình cảm bền chặt về sau giữa Việt Nam và Ấn Độ.

Trong hệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, tình cảm quốc tế không bao giờ là trừu tượng mà luôn gắn với sự trân trọng con người và các giá trị đạo đức phổ quát. Điều này thể hiện rõ trong sự kính trọng đặc biệt mà Người dành cho Mahatma Gandhi. Mặc dù Hồ Chí Minh và Gandhi lựa chọn những con đường đấu tranh khác nhau – một bên sẵn sàng sử dụng bạo lực cách mạng khi lịch sử đòi hỏi, bên kia kiên trì con đường bất bạo động – song Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao tinh thần bất hợp tác, đức hy sinh và ý chí chịu đựng gian khổ của Gandhi. Người từng nhấn mạnh rằng những người cách mạng Việt Nam cần học tập chính tinh thần chịu đựng và đức hy sinh cao cả ấy. Sự tôn trọng vượt lên khác biệt phương pháp này phản ánh tầm vóc văn hóa và nhân văn sâu sắc trong tư tưởng quốc tế của Hồ Chí Minh.

Trên nền tảng ấy, Hồ Chí Minh đã nâng quan hệ ngoại giao Việt – Ấn vượt ra khỏi khuôn khổ bang giao thông thường để trở thành một mối quan hệ mang đậm tính “tâm công” và tình huynh đệ. Sợi dây tình cảm ấy còn được bồi đắp bằng những biểu tượng văn hóa – tâm linh giàu ý nghĩa. Khi Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad sang thăm Việt Nam năm 1959 và tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh một cây bồ đề chiết từ nơi Đức Phật thành đạo, Người đã trực tiếp trồng cây tại chùa Trấn Quốc. Cây bồ đề ấy, qua thời gian, đã trở thành một biểu tượng sống động cho sự giao thoa tâm linh và kết nối văn hóa bền chặt giữa hai dân tộc. Cùng với đó, hình ảnh một Hồ Chí Minh giản dị, gần gũi – từ chối nghi lễ cầu kỳ, hòa mình với trẻ em, ngồi trên thảm cỏ cùng mọi người – đã để lại ấn tượng sâu sắc trong công chúng Ấn Độ, khiến báo chí nước này gọi Người bằng tất cả sự kính trọng và thân thương như một bậc hiền triết phương Đông.

Bước vào bối cảnh năm 2025, di sản Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt – Ấn tiếp tục cho thấy giá trị vận dụng thực tiễn rõ nét. Lòng tin chiến lược được xây dựng từ thời Hồ Chí Minh – Nehru đã trở thành một “tài sản tin cậy” đặc biệt, giải thích vì sao Ấn Độ sẵn sàng chia sẻ với Việt Nam những lĩnh vực nhạy cảm như hợp tác quốc phòng – an ninh ở mức độ cao. Hơn thế, khi nảy sinh những va chạm lợi ích trong lĩnh vực kinh tế – thương mại, Việt Nam hoàn toàn có thể vận dụng tinh thần “ngoại giao Hồ Chí Minh”: kết hợp lý lẽ với tình cảm chính trị, khai thác các giá trị văn hóa và lịch sử chung để làm mềm hóa khác biệt và thúc đẩy hợp tác cùng có lợi. Đồng thời, việc phát huy di sản Phật giáo và Yoga – những giá trị mà Hồ Chí Minh từng trân trọng – cũng mở ra không gian mới cho hợp tác văn hóa, du lịch và đầu tư giữa hai nước trong kỷ nguyên vươn mình.

Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người đặt nền móng mà còn là người thổi hồn vào quan hệ Việt Nam – Ấn Độ, biến một mối quan hệ ngoại giao thông thường thành một mối quan hệ thủy chung, trong sáng và bền chặt. Trong bối cảnh thế giới ngày càng thực dụng và cạnh tranh gay gắt, di sản ấy chính là “gốc rễ” tinh thần giúp quan hệ hai nước tiếp tục vươn xa. Cây có gốc rễ sâu mới có thể đâm cành vững chắc; và học tập tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh với Ấn Độ, suy cho cùng, chính là học cách lấy cái Tâm để thu phục lòng người, lấy cái Bất biến của tình nghĩa để ứng xử linh hoạt trước cái Vạn biến của lợi ích.

Kết luận
Trong suốt ba kỷ nguyên phát triển,  từ đấu tranh giành độc lập, đến đổi mới phát triển, và nay là vươn mình hùng cường - tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là nền tảng tư tưởng vững chắc, là ngọn lửa hun đúc bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng của cả dân tộc. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ thuộc về quá khứ, mà còn đang sống động trong từng chính sách, từng hành động và từng bước đi chiến lược của Đảng và Nhà nước. Học tập và làm theo Người trong kỷ nguyên mới không chỉ là sự kế thừa, mà còn là lời cam kết của thế hệ hôm nay đối với tương lai đất nước: đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thịnh vượng và hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI.
  • Phát triển kinh tế xanh ở Nam Phi và Nigeria: Gợi ý chính sách cho Việt Nam
  • Hỗ trợ phát triển chính thức của các Tiểu vương quốc Ả-Rập thống nhất  và khả năng hợp tác với Việt Nam
  • Chiến lược kinh tế biển xanh của Ấn Độ: Hàm ý cho Việt Nam
  • Giải pháp chiến lược của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn trên Biển Đông
  • Lao động qua biên giới ở vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc: Vấn đề và Giải pháp
  • Tác động của các nước lớn đến chính sách Hành động Hướng Đông của Ấn Độ
  • Hợp tác kinh tế Ấn Độ - ASEAN trong chính sách hành động hướng đông của Ấn Độ
  • Quan hệ thương mại và đầu tư của Việt Nam với một số quốc gia Châu Phi trọng điểm: Bối cảnh mới, định hướng mới
  • Giới thiệu sách: Cộng hòa Mozambique và khả năng hợp tác của Việt Nam đến năm 2030
  • Giới thiệu sách: Viện trợ quốc tế giải quyết đại dịch AIDS tại châu Phi: Tác động và một số gợi mở đối với Việt Nam

Liên kết website